Thị trường tín dụng Việt Nam sau 10 tháng năm 2021 và một số đề xuất

Đánh giá tổng quan nền kinh tế nước ta sau 10 tháng đầu năm 2021 và tại thời điểm đầu tháng 11 có thể thấy vốn tín dụng đủ sức đáp ứng nhu cầu của sản xuất, tiêu dùng, dồi dào về số lượng và lãi suất thấp. Vấn đề đáng quan tâm ở đây là sức hấp thụ vốn của nền kinh tế.

Tiềm lực vốn trên thị trường tín dụng

Thông tin từ NHNN cho biết, tín dụng toàn ngành Ngân hàng tính đến ngày 7/10/2021 tăng 7,42% so với đầu năm, cao hơn so với cùng kỳ năm 2020 (tăng 5,48%), nhưng không tăng so với cuối tháng 8/2021. Trong 3 quý đầu năm nay, tín dụng tăng trưởng khá cao ở nhiều ngân hàng như: Techcombank, Vietcombank, HDBank, OCB, TPBank..., với mức tăng lần lượt 16%; 1,5%; 16,1%; 21,5% và 15%. Hiện HDBank và một số ngân hàng cũng đang xin nới room tín dụng lên mức 25% để có thêm dư địa cho vay trong mùa cao điểm cuối năm.

Trong khi đó, theo kết quả điều tra xu hướng kinh doanh quý IV do NHNN thực hiện, các tổ chức tín dụng (TCTD) dự báo tín dụng tăng 4% quý này và tăng 12,3% trong năm 2021. Đồng thời, NHNN cũng tiếp tục theo dõi diễn biến lãi suất của thị trường và chỉ đạo các TCTD tiết giảm chi phí, cân đối, xem xét tiếp tục hạ lãi suất cho vay để hỗ trợ doanh nghiệp (DN), cá nhân chịu ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19.

Theo số liệu của NHNN, lũy kế từ ngày 23/1/2020 đến ngày 31/8/2021, tổng số tiền lãi TCTD đã miễn, giảm cho khách hàng lên tới 26.000 tỷ đồng. Trong đó, tổng số tiền lãi giảm theo cam kết của 16 ngân hàng lũy kế từ ngày 15/7/2021 đến ngày 30/9/2021 là khoảng 12.236 tỷ đồng, đạt 59,36% so với cam kết. Thanh khoản của toàn hệ thống ngân hàng được Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam khẳng định là vẫn đang ở trạng thái dồi dào để sẵn sàng hỗ trợ cho sự phục hồi của nền kinh tế (1).

NHNN đã bơm ròng vào hệ thống TCTD khoảng 120 nghìn tỷ đồng trong tháng 7 và 40 nghìn tỷ đồng trong tháng 8/2021 thông qua các hợp đồng mua bán ngoại tệ, tạo nguồn lực bổ sung cho thanh khoản của hệ thống ngân hàng càng được củng cố vững chắc thêm(2). Thanh khoản dồi dào hơn sẽ là cơ sở cho các TCTD tiếp tục tiến hành các chương trình ưu đãi lãi suất hỗ trợ nền kinh tế vượt qua đại dịch, đặc biệt là ở vùng dịch từng lan rộng tại các tỉnh, thành phía Nam. Các DN nhỏ và vừa, các công ty bán lẻ trong cả nước - khối khách hàng lớn, luôn thu hút từ 70 đến 80% tổng dư nợ tín dụng cho nền kinh tế đang dần phục hồi trở lại là những tín hiệu rất tốt. Mặc dù nhu cầu vay vốn của nhóm này thời gian qua có sự sụt giảm do ảnh hưởng của đại dịch, nhưng vẫn đang là động lực để các TCTD, các công ty tài chính tiêu dùng triển khai các sản phẩm cho vay ưu đãi lãi suất trong hai tháng cuối năm và những tháng đầu năm 2022.

Kinh nghiệm từ cuối năm 2020 cho thấy, vào những tháng quí IV, tốc độ tăng dư nợ cao hơn nhiều so với tốc độ tăng của 3 quí trước trong năm, nên khả năng tăng trưởng tín dụng cho nền kinh tế năm 2021 có thể sẽ đạt mức 12,5% đến 13%. Trong cuộc chạy đua về đích cuối năm, bản thân các TCTD là những DN dịch vụ, cũng chịu ảnh hưởng bởi dịch COVID-19. Mối quan hệ TCTD - DN là quan hệ cộng sinh nên TCTD cũng tự thấy cần chia sẻ với DN, người dân là khách hàng bằng tinh thần vào cuộc, dẫn đường, tìm đối tác đầu tư, nơi đầu tư an toàn và hiệu quả trong cuộc song hành cùng khách hàng.

Vấn đề của tiềm lực vốn hiện nay trên thị trường tín dụng là việc tìm ra các giải pháp để chống chọi với rủi ro phải được coi trọng hơn là tìm ra tổng nguồn để tạo nên tiềm lực, vì nguồn đang rất dồi dào.

Sức hấp thụ vốn của nền kinh tế

Việc chống dịch thời gian qua đã gây ảnh hưởng lớn, trực tiếp đến nền kinh tế với kết quả GDP quý III/2021 giảm tới 6,17% và GDP sau 9 tháng cả nước chỉ tăng 1,42%. Trong mức tăng chung khiêm tốn của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,74%, đóng góp 23,52%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 3,57%, đóng góp 98,53%; khu vực dịch vụ giảm 0,69%, làm giảm 22,05%(3).

Mặc dù, đại dịch đang từng bước được khống chế, các hoạt động kinh tế - xã hội từng bước đang trở lại trong điều kiện bình thường mới, nhưng hậu quả của đại dịch vẫn sẽ còn ảnh hưởng nặng nề và sâu rộng. Giai đoạn khốc liệt của làn sóng dịch COVID-19 lần thứ tư diễn ra từ giữa quý II đã tác động trong quý III/2021 do phải thực hiện giãn cách xã hội ở nhiều khu vực, nhiều địa phương đã làm cho chuỗi sản xuất, cung ứng hàng hóa bị đứt gãy, nhiều đơn hàng sản xuất bị hủy bỏ. Tình trạng thiếu hụt lao động sản xuất diễn ra rất phức tạp khi bước vào quý cuối cùng của năm 2021.

Theo khảo sát của Tổng cục Thống kê, trong tháng 9/2021 có đến 95% DN gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch COVID-19; 80% DN phải tăng chi phí đầu vào; 54,2% DN phải tăng chi phí do giá nguyên vật liệu tăng; 49,5% DN phải tăng chi phí về công nghệ thông tin logistic; đặc biệt có đến 33,4% DN thiếu lao động và 40,8% DN thiếu nguyên vật liệu sản xuất. Kéo theo đó, tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội quý III/2021 giảm tới 28,3% so với cùng kỳ năm trước và 9 tháng đầu năm 2021 giảm 7,1%, loại trừ yếu tố giá giảm 8,7% là mức giảm rất sâu

Về cơ cấu xuất, nhập khẩu của nền kinh tế, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có kim ngạch xuất khẩu chiếm trên 70% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá và xuất siêu. Khu vực kinh tế trong nước nói chung, trong đó đặc biệt là khu vực dịch vụ trong 9 tháng năm 2021có kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 2,66 tỷ USD, giảm 59,6% so với cùng kỳ năm trước, kim ngạch nhập khẩu tới 14,35 tỷ USD, tăng 7,2%, dẫn đến nhập siêu.  

Vì sức hấp thụ vốn của nền kinh tế đến quí IV/2021 vẫn còn yếu nên trong những tháng gần đây và kế hoạch cho những tháng cuối năm cũng như đón đầu năm 2022, lãi suất đã và tiếp tục được NHNN chỉ đạo phải giảm thấp để tiếp tục hỗ trợ cho tăng trưởng tín dụng khi sản xuất và tiêu dùng trong nước đang dần hồi phục. Song hành với những chính sách nới lỏng và kích hoạt sức sản xuất đang yếu sẽ là những rủi ro khó lường. Đây là bài toán không chỉ cho người dùng vốn, mà trước hết là nỗi lo cho bên cung ứng vốn, đó là hệ thống các TCTD, các công ty tài chính tiêu dùng. Những tác động của dịch đang làm cho người dân, DN gặp nhiều khó khăn khi trả nợ, có thể dẫn đến nguy cơ nợ xấu ngân hàng tăng sẽ là những nguy cơ cần tính toán cẩn trọng.

Cơ sở nào cho những kỳ vọng

Tính đến thời điểm đầu tháng 11/2021, bức tranh tổng thể về kinh tế vĩ mô của nước ta vẫn khá ổn định: Lạm phát vẫn được duy trì ở mức thấp, tăng trưởng tuy không đạt kỳ vọng nhưng tổng thể vẫn là khá cao nếu so với nhiều nước trong khu vực và thế giới. Cán cân thanh toán tổng thể vẫn cân bằng, tạo điều kiện củng cố dự trữ ngoại hối. Thâm hụt ngân sách, nợ công, nợ nước ngoài vẫn đang được kiểm soát ở mức an toàn cho phép. Thị trường tiền tệ, ngoại hối ổn định, lãi suất cho vay giảm, tỷ giá ổn định, thanh khoản của hệ thống ngân hàng luôn thông suốt và được bảo đảm.

Thống đốc NHNN cũng đã khẳng định: Từ nay đến cuối năm, NHNN tiếp tục kiên định điều hành bám sát theo mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. “...Đồng thời, trong bối cảnh phải căng sức thực hiện giải pháp tháo gỡ khó khăn cho người dân, DN, không chủ quan về các diễn biến lạm phát, bảo đảm an toàn hoạt động hệ thống ngân hàng. Chúng tôi sẽ kết hợp đồng bộ công cụ, giải pháp chính sách tiền tệ linh hoạt, bảo đảm ổn định tỷ giá và ngoại hối…” - Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng nói(4).

Đợt bùng phát đại dịch COVID-19 lần thứ 4 đã kéo triển vọng tăng trưởng năm 2021 đi xuống. Do giãn cách xã hội kéo dài tại các trung tâm kinh tế lớn đã khiến khu vực DN - khu vực khách hàng lớn nhất của thị trường tín dụng bị tổn thương nghiêm trọng. Bức tranh kinh tế năm 2021 của nước ta có những thăng trầm do hậu quả của đại dịch, song vẫn có cơ sở để lạc quan về triển vọng tăng trưởng của Việt Nam trong trung và dài hạn.

Cơ sở của sự lạc quan này dựa trên sự phục hồi của cầu nội địa, với sức tiêu thụ của thị trường gần 100 triệu dân; môi trường vĩ mô ổn định, nền kinh tế năng động. Việt Nam đã là thành viên của nhiều hiệp định thương mại đa phương và song phương quan trọng có quy mô và tầm vóc lớn, đồng thời đang mở rộng tiêu thụ sang các thị trường xuất khẩu mới.

Bên cạnh đó, các nền kinh tế lớn như: Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, EU có tính dẫn dắt kinh tế thế giới cũng đã và đang phục hồi ngay trong đại dịch, đang đẩy mạnh sản xuất để đáp ứng nhu cầu bùng phát sau hơn một năm bị thu hẹp bởi đại dịch.

Tốc độ tiêm chủng vaccine COVID-19 cho người dân ở các địa phương, đặc biệt tại những vùng kinh tế trọng điểm như TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai và nhiều tỉnh, thành cũng như những khu công nghiệp lớn trên phạm vi cả nước đã tạo điều kiện thúc đẩy việc quay trở lại sản xuất của các DN, làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh có những thay đổi rõ nét và có chiều hướng ngày càng tốt lên. Thu hút vốn đầu tư cũng có sự thay đổi rõ nét. Vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách nhà nước trong tháng 10/2021đã tăng lên đáng kể (tăng 18,6%) so với tháng trước, thể hiện quyết tâm của Chính phủ cũng như các bộ, ngành, địa phương trong việc đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công. Kỳ vọng sự bật tăng tốc độ giải ngân vốn đầu tư công ở 2 tháng cuối năm sẽ mở hướng cho thị trường tín dụng phát triển mạnh hơn. Đối với công nghiệp, việc khuyến khích lao động quay trở lại làm việc, nhất là với các DN xuất khẩu vì nhu cầu bên ngoài cũng đang tăng mạnh và đa dạng dưới nhiều hình thức.  

Một số đề xuất

Từ những số liệu và phân tích nêu trên, tác giả có một số gợi ý đề xuất như sau:

Chính phủ cần tiếp tục kiên định thực hiện Nghị quyết 128/NQ-CP về quy định tạm thời “thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19”.

Quan trọng hơn cả, chính sách tài khóa phải vào cuộc mạnh hơn để đẩy mạnh đầu tư công, mở hướng tiêu thụ vốn cho thị trường và đẩy mạnh bảo lãnh Nhà nước cho các DN có khả năng tiếp cận vốn vay từ nguồn vốn đang dồi dào trong hệ thống các TCTD và các công ty tài chính tiêu dùng mà Hiệp hội Ngân hàng là đầu mối,  cần có nhiều tác động trực tiếp đến các cấp, các ngành và đặc biệt là đến các thành viên của Hiệp hội để thúc đẩy sức phát huy hiệu quả của các nguồn lực tiềm tàng này. Các TCTD cần sử dụng các thước đo chuẩn mực về phòng ngừa rủi ro của Basel kết hợp với sự vào cuộc trực tiếp với bên vay vốn để đánh giá rủi ro cho từng món vay, lĩnh vực vay và có giải pháp giải ngân thích hợp với từng loại tín dụng để hạn chế tối đa rủi ro.

Nhìn vào sức hấp thụ vốn thông qua bức tranh tổng quát của kinh tế cho thấy, để lấy lại đà tăng trưởng trong quý IV/2021 và những năm tiếp theo, việc khơi dậy, thúc đẩy và đáp ứng tổng cầu vốn và tiêu dùng ở khu vực kinh tế nội địa là vấn đề cơ bản, mấu chốt. Đồng thời, cần tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do để tăng cường xuất khẩu, mở rộng thị phần hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam tới các thị trường truyền thống và thị trường mới.

Việt Nam phải đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ, các ngành sản xuất nguyên vật liệu đầu vào để tự đáp ứng nhu cầu sản xuất tiêu dùng trong nước và tiêu dùng đầu vào cho khu vực sản xuất hàng xuất khẩu. Thực hiện phương châm xuất khẩu tại chỗ, tạo thành chuỗi cung ứng liên kết giữa sản xuất trong nước với khu vực sản xuất hàng xuất khẩu ra nước ngoài.

Đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ như: dịch vụ du lịch, dịch vụ vận tải, viễn thông.… Có như vậy mới giảm nhập siêu và dần đi đến xuất siêu ở khu vực kinh tế nội địa, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững trong trung và dài hạn.

Do nhiều DN còn gặp khó khăn về dòng tiền và chịu ảnh hưởng bởi dịch, tốc độ tăng trưởng tín dụng thời gian tới sẽ phụ thuộc vào khả năng hấp thụ vốn của DN, người dân cũng như sức bật dậy của nền kinh tế hơn là phụ thuộc vào tiềm lực vốn cho nền kinh tế. Vì vậy, Chính phủ cần có chỉ đạo liên ngành NHNN, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Ðầu tư và các địa phương có cơ chế trực tiếp đối thoại với DN, người dân để tìm ra các chính sách hỗ trợ thích ứng với các nhóm, loại khách hàng có nhu cầu vay vốn khác nhau trên phạm vi cả nước và đáp ứng có kiểm soát rủi ro ở mọi lĩnh vực của nền kinh tế.